TÓM TẮT
Mục tiêu: Nghiên cứu giá trị chẩn đoán cúa siêu âm ba chiều thời gian thực (RT3D) qua thành ngực trong chẩn đoán bệnh thông liên nhĩ.
Đối tượng và phương pháp: Tiến hành siêu âm tim RT3D cho 123 bệnh nhân TLN. So sánh kích thước TLN đo trên siêu âm RT3D với đo bằng các phương pháp khác.
Kết quả: 73,2% lỗ thông có hình bầu dục, 26,8% có hình tròn. Đường kính lớn nhất của TLN đo trên RT3D lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với đo trên 2D qua thành ngực (23,9 ± 7,8 so với 23,0 ± 7,7 mm, p
Kết luận: Trong bệnh TLN, siêu âm RT3D đo kích thước lỗ thông, kích thước các gờ chính xác hơn so với siêu âm 2D qua thành ngực nhưng không chính xác bằng siêu âm 2D qua thực quản.
ABSTRACT
Purpose: Reseach the diagnosic value of real time three dimentional (RT3D) echocardiography in Atrial Septal Defect (ASD).
Object and method: 123 ASD patients underwent examine by RT3D echocardiography. To compare size of ASD measured by RT3D echocardiography to by other methods. Result: 73.2% the form of ASD are elliped, 26.8% are circled. ASD long-axis dimention measured by RT3D echocardiography is significantly greater than by 2D-TTE (23,9 ± 7,8 versus 23,0 ± 7,7 mm, p
Conclusions: RT3D echocardiography estimating ASD size and length of rims are more exactly than 2D-TTE but less exactly than 2D-TEE.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cho đến nay, nhờ sự tiến bộ của y học mà bệnh tim bẩm sinh nói chung và thông liên nhĩ (TLN) nói riêng cơ bản đã có những phương pháp chẩn đoán tối ưu. Sự ra đời của siêu âm-Doppler tim giúp chẩn đoán xác định sự có mặt, số lượng, vị trí TLN, giải phẫu bệnh xung quanh lỗ thông, cung cấp các thông tin chi tiết hữu ích trong việc lựa chọn phương pháp đóng TLN và theo dõi kết quả điều trị. Công nghệ dựng hình ba chiều theo thời gian thực (RT3D-real time three dimensions) đã hoàn thiện hơn vai trò của siêu âm trong việc phẫu tích bề mặt các dị tật và các cấu trúc tim. Kỹ thuật siêu âm RT3D mới được áp dụng trong lĩnh vực tim mạch tại Việt Nam vào năm 2011. Nghiên cứu này đánh giá giá trị chẩn đoán cúa siêu âm RT3D qua thành ngực trong chẩn đoán bệnh TLN.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng: 123 bệnh nhân TLN thuộc các thể đến khám và điều trị tại Viện Tim mạch Việt Nam từ tháng 01/2012-12/2013. Các bệnh nhân này được siêu âm tim siêu âm RT3D qua thành ngực (bằng máy siêu âm tim Phillip – iE33 WA 98021-8431-USA với đầu dò RT3D qua thành ngực kiểu Maxtrix, tần số 3,5MHz) đo kích thước TLN và các gờ quanh lỗ thông bằng phần mềm Q-lap. Ngoài ra các bệnh nhân được siêu âm tim 2D qua thành ngực (2 dimentions transthoracic echocardiography: 2D-TTE), và siêu âm 2D qua thực quản (2 dimentions transephageon echocardiography: 2D-TEE). 69 bệnh nhân được đóng TLN bằng phẫu thuật, 51 bệnh nhân được bít dù qua da, 3 bệnh nhân được điều trị nội khoa do không còn chỉ định đóng TLN. So sánh kích thước TLN đo trên siêu âm RT3D với đo trên 2D-TTE, 2D-TEE, kích thước eo bóng và kích thước đo khi phẫu thuật.
Phương pháp: nghiên cứu mô tả, cắt ngang, tiến cứu.
Xử lý số liệu: Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo các thuật toán thống kê y học trên máy vi tính bằng phần mềm SPSS 13.0.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Giới tính và độ tuổi: 123 bệnh nhân TLN gồm 84 nữ (68,3%), 39 nam (31,7%), tuổi từ 15-73, trung bình 38,3 ± 12,5 tuổi.
2. Vị trí TLN: 118 bệnh nhân TLN lỗ thứ hai (95,9%), 4 bệnh nhân TLN thể xoang tĩnh mạch (3,3%), 1 bệnh nhân TLN lỗ thứ nhất (0,8%).
3. Đặc điểm hình ảnh RT3D của TLN
Bảng 1. Đặc điểm hình dạng lỗ thông trên siêu âm RT3D (n = 123)
| Hình dạng lỗ thông |
Số lượng (n) |
Tỷ lệ (%) |
| Bầu dục |
90 |
73,2 |
| Tròn |
33 |
26,8 |
| Tổng |
123 |
100,0 |
Trên siêu âm RT3D, lỗ TLN có hai dạng: hình bầu dục là chủ yếu, hình tròn gặp ít hơn.
Bảng 2. Kích thước TLN đo trên RT3D-TTE (n = 123)
| Thông số |
X ± SD |
p |
|
| Đường kính TLN (mm) |
Nhĩ trương |
24,1 ± 7,6 |
|
| Nhĩ thu |
19,6 ± 6,6 |
||
| Diện tích TLN (cm2) |
Nhĩ trương |
4,4 ± 2,0 |
|
| Nhĩ thu |
3,0 ± 1,5 |
||
Đường kính và diện tích lỗ TLN tại thì nhĩ trương và thì nhĩ thu khác có ý nghĩa thống kê với p
Bảng 3. So sánh kích thước lỗ thông giữa các phương pháp siêu âm RT3D-TTE, 2D-TTE và 2D-TEE (n = 123)
| PPSA |
X ± SD |
Khác biệt |
p |
R |
| RT3D |
23,9 ± 7,8 |
0,93 ± 4,8 |
|
0,811 |
| 2D-TTE |
23,0 ± 7,7 |
|||
| RT3D |
23,9 ± 7,8 |
-1,7 ± 5,7 |
|
0,735 |
| 2D-TEE |
25,6 ± 8,0 |
|||
| 2D-TTE |
23,0 ± 7,7 |
-2,6 ± 6,7 |
|
0,628 |
| 2D-TEE |
25,6 ± 8,0 |
Đường kính lớn nhất của lỗ TLN đo trên siêu âm RT3D nhỏ hơn đo trên siêu âm 2D-TEE nhưng lớn hơn đo trên siêu âm 2D-TTE. So với đo trên 2D-TEE thì kích thước TLN đo trên RT3D ít khác biệt hơn, có mối tương quan chặt chẽ hơn 2D-TTE.
Bảng 4. So sánh kích thước lỗ thông đo bằng các phương pháp siêu âm tim với đo bằng bóng khi thông tim
PP đo |
n |
X ± SD |
Khác biệt |
p |
R |
| 2D-TTE |
102 |
21,7 ± 6,5 |
-6,0 ± 5,6 |
|
0,640 |
| Đường kính eo bóng |
28,6 ± 6,5 |
||||
| 2D-TEE |
100 |
22,9 ± 6,2 |
-5,7 ± 4,9 |
|
0,701 |
| Đường kính eo bóng |
28,7 ± 6,5 |
||||
| RT3D |
69 |
21,9 ± 6,7 |
-6,4 ± 6,0 |
|
0,612 |
| Đường kính eo bóng |
28,2 ± 6,9 |
Đường kính lỗ TLN đo bằng bóng khi thông tim có trị số trung bình lớn hơn có ý nghĩa thông kê so với đo trên siêu âm với p
Bảng 5. So sánh kích thước lỗ thông đo bằng các phương pháp siêu âm tim với đo khi phẫu thuật
PP đo |
n |
X±SD |
Khác biệt |
p |
r |
| 2D-TTE |
54 |
26,1 ± 7,8 |
-8,2 ± 10,7 |
|
0,170 |
| Phẫu thuật |
34,3 ± 8,7 |
||||
| 2D-TEE |
52 |
29,4 ± 8,1 |
-5,2 ± 6,9 |
|
0,602 |
| Phẫu thuật |
34,6 ± 7,4 |
||||
| RT3D-TTE |
51 |
27,7 ± 7,9 |
-6,5 ± 10,2 |
|
0,225 |
| Phẫu thuật |
34,2 ± 8,4 |
Đường kính TLN đo trên siêu âm 2D-TTE, 2D-TEE và siêu âm RT3D đều nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với đo khi phẫu thuật
Bảng 6. So sánh kích thước các gờ đo bằng siêu âm RT3D với 2D-TEE
| Gờ |
RT3D-TTE |
2D-TEE |
Khác biệt |
p |
r |
| Gờ TMCT (n=111) |
9,7 ± 4,8 |
11,2 ± 5,2 |
1,5 ± 3,4 |
|
0,776 |
| Gờ TMCD (n=111) |
9,8 ± 5,9 |
10,8 ± 7,1 |
1,0 ± 5,3 |
|
0,679 |
| Gờ TMPP (n=107) |
9,2 ± 5,1 |
11,0 ± 5,5 |
1,8 ± 4,3 |
|
0,667 |
| Gờ ĐMC (n=113) |
3,2 ± 3,4 |
2,7 ± 3,9 |
-0,5 ± 3,5 |
> 0,05 |
0,551 |
| Gờ van NT (n=113) |
11,1 ± 3,8 |
11,4 ± 4,0 |
0,3 ± 3,8 |
> 0,05 |
0,544 |
Kích thước gờ TMCT, gờ TMCD, gờ TMPP đo trên siêu âm RT3D ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với đo trên siêu âm 2D-TEE (p
Bảng 7. So sánh kích thước các gờ đo bằng siêu âm RT3D với phẫu thuật
Gờ |
RT3D-TTE |
Phẫu thuật |
Khác biệt |
p |
r |
| Gờ van NT (n = 43) |
11,7 ± 4,7 |
12,9 ± 3,9 |
-1,2 ± 3,1 |
|
0,758 |
| Gờ TMCT (n = 43) |
10,2 ± 5,3 |
12,0 ± 6,9 |
-1,8 ± 3,7 |
|
0,794 |
| Gờ TMCD (n = 44) |
7,9 ± 6,5 |
7,9 ± 6,9 |
0,01 ± 5,3 |
> 0,05 |
0,680 |
| Gờ TMPP (n = 42) |
7,6 ± 6,0 |
10,6 ± 5,2 |
-3,0 ± 4,4 |
|
0,690 |
| Gờ ĐMC (n = 43) |
3,5 ± 4,2 |
5,1 ± 4,7 |
-1,5 ± 3,9 |
|
0,604 |
Gờ TMCD đo trên siêu âm RT3D có kích thước tương đương với đo khi phẫu thuật. Các gờ khác bao gồm gờ van nhĩ thất, gờ TMCT, gờ TMPP, gờ ĐMC đo trên RT3D-TTE ngắn hơn đo khi phẫu thuật. Các giá trị đo được bằng hai phương pháp có mối tương quan thuận mức độ chặt.
BÀN LUẬN
Đặc điểm hình dạng lỗ thông trên siêu âm RT3D
Theo một số nghiên cứu thì lỗ TLN có thể hình bầu dục, hình tròn hoặc hình đa giác [3][4][6]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 123 BN được tiến hành RT3D-TTE, có 90 BN có lỗ TLN hình bầu dục chiếm 73,2 %, số còn lại (33 BN chiếm 26,8%) lỗ thông có hình tròn, các hình dạng khác không quan sát thấy. Hình bầu dục gặp chủ yếu lý giải cho hiện tượng còn shunt tồn lưu qua VLN sau bít TLN bằng dụng cụ khi đường kính dụng cụ bít không bao phủ đủ đường kính trục dọc của lỗ thông. Như vậy, trên siêu âm, kích thước TLN cần phải đo ở nhiều mặt cắt khác nhau, ngoài kích thước eo bóng đo được qua thông tim, đường kính lớn nhất đo trên siêu âm sẽ được dùng để tham khảo khi chọn dụng cụ bít.
Kích thước lỗ TLN đo trên siêu âm RT3D
Khi đo trên siêu âm RT3D, đường kính lớn nhất ở thì nhĩ trương trung bình là 24,1 ± 7,6 mm, lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với đo trên 2D-TTE (23,0 ± 7,7 mm) với p
So sánh kích thước lỗ thông đo trên siêu âm RT3D, 2D-TTE, 2D-TEE với đường kính eo bóng.
Các phương pháp siêu âm cho đường kính TLN nhỏ hơn có ý nghĩa khi đo bằng eo bóng, độ khác biệt từ 5-7 mm, p
So sánh kích thước lỗ thông đo trên siêu âm RT3D, 2D-TTE, 2D-TEE với đo khi phẫu thuật
Đường kính lớn nhất của TLN đo được trên siêu âm RT3D trung bình là 27,7 ± 7,9 mm, nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với kích thước ước lượng của phẫu thuật viên 31,2 ± 8,4 mm, độ khác biệt trung bình là -6,5 ± 10,2 mm, p
Kích thước các gờ đo trên RT3D
Bảng 6 cho thấy độ dài gờ ĐMC, gờ van nhĩ thất đo trên siêu âm RT3D không khác biệt và có mối tương quan mức độ chặt so với đo trên siêu âm 2D-TEE (tương ứng là 2,7 ± 3,9 mm và 11,4 ± 4,0 mm, khác biệt là -0,5 ± 3,5 mm và 0,3 ± 3,8 mm; p > 0,05). Kết quả này tương tự như trong nghiên cứu của Acar P khi thấy rằng kích thước gờ ĐMC và gờ van nhĩ thất đo trên RT3D-TTE không có sự khác biệt với đo trên 2D-TEE [2]. Tuy nhiên, gờ TMCT, gờ TMCD và gờ TMPP đo trên RT3D nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với 2D-TEE (p
So sánh kích thước các gờ đo trên siêu âm RT3D với kết quả đo khi phẫu thuật.
Hầu hết các gờ đo trên siêu âm RT3D nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với đo khi phẫu thuật (p
KẾT LUẬN
Siêu âm tim RT3D là một phương pháp thăm dò không xâm nhập, an toàn, tương đối dễ thực hiện, giúp khảo sát trực diện hình dạng TLN, đo kích thước lỗ thông theo các chiều. Đường kính TLN đo trên siêu âm RT3D cho kết quả chính xác hơn đo trên 2D-TTE mặc dù vẫn nhỏ hơn so với số đo trên siêu âm 2D-TEE.
Siêu âm RT3D giúp quan sát các gờ quanh lỗ thông đồng thời trên một mặt phẳng. Kích thước các gờ đo trên RT3D lớn hơn so với đo trên 2D-TTE, nhỏ hơn và có mối tương quan thuận, mức độ chặt với kích thước đo trên 2D-TEE và đo khi phẫu thuật.